Như kỳ 4 đã phân tích, để lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ, xây lắp có chất lượng tốt, giá thành phù hợp, trước tiên phải đưa ra được những rào cản kỹ thuật, yêu cầu về kỹ thuật cao để loại nhà thầu kém chất lượng, đưa ra được công thức xác định giá đánh giá phù hợp để lựa chọn được nhà thầu tối ưu trong số các nhà thầu đạt yêu cầu về kỹ thuật. Ngoài ra, một điều kiện quan trọng không kém là phải có tổ chuyên gia, tư vấn đấu thầu giỏi chuyên môn, có năng lực, kinh nghiệm để đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT).
KỲ 5-1 TỪ GIÁ ĐÁNH GIÁ ĐẾN QUẢN LÝ HỢP ĐỒNG ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM
Khi đánh giá HSDT, tổ chuyên gia, tư vấn đấu thầu thường “cân đong đo đếm” từng tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật… được kê khai trong HSDT của nhà thầu. Bởi vì, những thông số như công suất tinh hay sản lượng điện thương phẩm… trong các HSDT đều đóng góp cho sự thành bại của một nhà thầu trong một cuộc thầu. Ở nhiều gói thầu, thời gian thực hiện hợp đồng cấu thành một yếu tố quan trọng trong việc xác định giá đánh giá. Khi đó, việc rút ngắn thời gian thực hiện hợp đồng 30 ngày được quy về một khoản tiền mà nhà thầu làm lợi cho chủ đầu tư và được trừ từ giá dự thầu của nhà thầu để xác định giá đánh giá. Tương tự như vậy, việc nhà thầu đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng kéo dài hơn, dù chỉ một ngày, so với yêu cầu của hồ sơ mời thầu (HSMT) cũng được coi là bất lợi cho nhà thầu khi một ngày chậm bàn giao công trình được quy đổi với một khoản tiền nhất định để cộng vào giá đánh giá.

Khi chấm thầu, từng thông số, từng đề xuất của nhà thầu đều được xem xét rất kỹ, người ta “cân đong đo đếm” từng thời gian thực hiện hợp đồng, từng hiệu suất, chi phí… Trong khóa học đấu thầu có nhiều tình huống nếu nhìn vào thực trạng tình hình thực hiện hợp đồng EPC nhiệt điện đốt than gần đây thì có thể thấy rằng, trong khi chấm thầu, chủ đầu tư, tư vấn chặt chẽ bao nhiêu thì khi thực hiện hợp đồng lại “thoáng” bấy nhiêu. Liệu có bao nhiêu chủ đầu tư nhìn lại cả quá trình để thấy bức tranh tương phản trong và sau cuộc đấu thầu rằng, khi đánh giá HSDT, sở dĩ nhà thầu X được trúng thầu là vì họ đưa ra đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng là 3 năm, còn bây giờ đã hơn 5 năm mà nhà thầu này vẫn chưa bàn giao công trình. Nếu như ngay từ ban đầu, ở giai đoạn tham dự thầu, nhà thầu đề xuất kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng thêm 2 năm thì chắc chắn giá đánh giá của nhà thầu này đã thành một con số cực kỳ khổng lồ và cơ hội trúng thầu là con số không tròn trĩnh. Liệu có bao nhiêu chủ đầu tư xem xét kỹ các yếu tố vốn đã từng góp phần vào thành công của nhà thầu như công suất, hiệu suất… của “ngày ấy” và của “bây giờ”, có khác nhau nhiều không và tại sao lại có sự khác nhau như thế và phải có giải pháp gì?
Suy cho cùng, mọi đề xuất của nhà thầu thể hiện trên HSDT đều là thông tin… trên giấy. Nhưng để những thông tin trên giấy đó biến thành công trình, nhà máy trên thực tế như HSDT đã vẽ nên thì hợp đồng và quản lý hợp đồng là nội dung quan trọng nhất. Tiếc thay, đây lại là khâu yếu nhất trong công tác thực hiện dự án hiện nay của Việt Nam.
Đầu tiên phải kể đến chất lượng hợp đồng. Khác với doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa quen với việc hợp đồng và các tài liệu đi kèm (HSMT, HSDT…) là căn cứ duy nhất về mặt pháp lý để ràng buộc trách nhiệm của các bên. So với chủ đầu tư, nhà thầu Việt Nam có vẻ có vị thế “yếu hơn” vì ít khi có nhà thầu nào “dám” đâm đơn kiện chủ đầu tư ra tòa. Khi có vấn đề nào đó phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên thường “dĩ hòa vi quý”, xí xóa, bỏ qua cho nhau. Rất ít trường hợp chủ đầu tư phạt hợp đồng nhà thầu Việt Nam vì chất lượng kém hay chậm trễ thực hiện hợp đồng. Với những vấn đề không thương lượng, hòa giải được, thay vì đưa vấn đề ra trọng tài hoặc tòa án như quy định trong hợp đồng, chủ đầu tư và nhà thầu Việt Nam lại gửi đơn đến các cơ quan quản lý nhà nước nhờ xử lý, mà rõ ràng cơ quan quản lý nhà nước không có chức năng và thẩm quyền giải quyết những vấn đề phát sinh trong mối quan hệ dân sự thông qua hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu. Vì thế, hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu Việt Nam thường sơ sài, các nội dung thiếu chi tiết, cụ thể. Các vấn đề phát sinh không thể dựa vào những câu chữ sơ sài trong hợp đồng thì đã có… cơ quan quản lý nhà nước để dựa vào.
Xem tiếp kỳ 5-2 tại tin tức từ Cục quản lý đấu thầu được cập nhật bởi Vdict.edu.vn