• Banner chạy dọc bên trái
  • Banner chạy dọc bên phải
Khoa hoc dau thau, Tư vấn đấu thầu Viện đào tạo và bồi dưỡng cán bộ xây dựng VDICT
Khoa hoc chi huy truong cong trinh, cấp chứng chỉ huy trưởng công trình Khoa hoc tu van giam sat, xin cấp chứng chỉ hành nghề giám sát tại Hà NộiKhóa học quản lý dự án, tập huấn Quản lý dự án tại Hà TĩnhKhóa học đấu thầu qua mạngKhoa hoc an toan lao dong, Cấp chứng nhận an toàn lao độngChung chi hanh nghe thiet ke

Luật đấu thầu số 43-2013-QH13 Kỳ 5-2

(22:36:08 03/04/2014)

Như kỳ 5-1 ta đã phân tích. Trái với nhà thầu Việt Nam, nhà thầu nước ngoài thường tìm cách đưa vào hợp đồng những nội dung có lợi cho họ. Chủ đầu tư phía Việt Nam vốn quen với cách làm “dĩ hòa vi quý” trở nên yếu thế so với nhà thầu nước ngoài. “Bút sa gà chết”, một khi hợp đồng đã ký kết thì chủ đầu tư phía Việt Nam không thể không thực hiện, cũng không thể cầu cứu cơ quan quản lý nhà nước can thiệp vì việc can thiệp hành chính như vậy là trái với luật pháp của Việt Nam và thế giới. Đơn cử ví dụ, hợp đồng giữa chủ đầu tư là Công ty Nhiệt điện Hải Phòng với nhà thầu liên danh Đông Phương+Marubeni để xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 2 quy định, nhà thầu phải thu xếp hợp đồng tín dụng với ngân hàng (nhà thầu phải thu xếp vốn để thực hiện gói thầu). Hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu được ký kết vào năm 2006, có hiệu lực từ ngày 4/7/2007. Nhà thầu thực hiện theo đúng hợp đồng là thu xếp hợp đồng tín dụng với Ngân hàng China Eximbank. Hợp đồng tín dụng được ký vào ngày 12/6/2007.

 KỲ 5-2. TỪ GIÁ ĐÁNH GIÁ ĐẾN QUẢN LÝ HỢP ĐỒNG

Tuy nhiên, thời gian có hiệu lực giải ngân trong hợp đồng tín dụng này là từ ngày 9/7/2010, tức là 3 năm sau kể từ ngày hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu có hiệu lực và hợp đồng tín dụng được ký kết. Hậu quả là mặc dù thời gian bàn giao công trình quy định trong hợp đồng là 38 tháng, cho đến nay đã hết 38 tháng mà công trình hầu như chưa được chính thức thi công vì thiếu vốn. Sự thiếu chi tiết trong điều khoản về việc thu xếp vốn của nhà thầu, cụ thể là thời gian giải ngân của hợp đồng tín dụng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm trễ thực hiện hợp đồng của nhà thầu, gây thiệt hại không nhỏ cho chủ đầu tư và Nhà nước.
Một ví dụ khác là về hợp đồng trong ngành giao thông ký giữa chủ đầu tư phía Việt Nam và nhà thầu Nhật Bản. Hợp đồng được thực hiện theo hình thức hợp đồng theo đơn giá (hợp đồng điều chỉnh giá), được thanh toán bằng hai loại đồng tiền: Đồng Việt Nam và Yên Nhật. Giá hợp đồng được điều chỉnh theo công thức điều chỉnh giá quy định trong hợp đồng. Đến khi thanh toán hợp đồng, chủ đầu tư mới tá hỏa khi phát hiện ra rằng, nhà thầu có cách hiểu hoàn toàn khác với chủ đầu tư về điều chỉnh giá hợp đồng. Chủ đầu tư phía Việt Nam đinh ninh rằng, việc điều chỉnh giá hợp đồng chỉ áp dụng đối với phần công việc được thanh toán bằng đồng tiền Việt Nam. 
Trong khi đó, nhà thầu Nhật Bản thì khẳng định, việc điều chỉnh giá hợp đồng áp dụng cho cả phần công việc thanh toán bằng Yên Nhật. Sự không rõ ràng về điều khoản điều chỉnh giá hợp đồng là nguyên nhân khiến mỗi bên lý giải hợp đồng theo cách có lợi cho mình. Cho đến thời điểm này, tranh chấp giữa chủ đầu tư và nhà thầu nước ngoài vẫn chưa ngã ngũ nên chưa rõ phía chủ đầu tư Việt Nam có phải “trả giá” cho một phút “bút sa gà chết” hay không. 
Chất lượng của hợp đồng chưa cao, tuy nhiên, quản lý hợp đồng mới phát sinh nhiều vấn đề. Trong các dự án nhiệt điện xảy ra rất nhiều trường hợp như: nhà thầu nước ngoài thay đổi xuất xứ vật tư, vật liệu so với đề xuất trong HSDT, đưa thiết bị có xuất xứ không rõ ràng, thời gian khắc phục sự cố xảy ra với các thiết bị phụ trợ quá lâu… Nhà thầu chậm khắc sự cố, chậm bàn giao công trình, chủ đầu tư như ngồi trên đống lửa nhưng cũng chẳng làm được gì hơn ngoài việc thường xuyên thúc giục nhà thầu. Tại sao không phạt hợp đồng, phạt cả về chậm tiến độ thực hiện hợp đồng lẫn chất lượng kém? Dư luận đâu đó thậm chí còn đặt nghi vấn với tính công tâm của chủ đầu tư rằng, nhà thầu nước ngoài “chi đẹp” nên chủ đầu tư đành nhắm mắt làm ngơ… 
Dư luận đâu biết rằng, trên thực tế, để phạt nhà thầu nước ngoài chẳng dễ chút nào. Nhà thầu nước ngoài có lỗi trong việc chậm thực hiện hợp đồng nhưng chủ đầu tư cũng góp phần vào việc chậm trễ đó như bàn giao mặt bằng chậm, ứng vốn chậm, không bố trí được điện lưới phù hợp để hòa điện… Có dự án chủ đầu tư chậm bàn giao một phần mặt bằng đến 17 tháng, dĩ nhiên việc chậm bàn giao một phần mặt bằng này không ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện hợp đồng của nhà thầu vì nhà thầu không thể cùng một lúc thực hiện tất cả các công đoạn trên cả mặt bằng. 
Tuy nhiên, nhà thầu nước ngoài luôn “viện cớ” việc chậm bàn giao mặt bằng 17 tháng khiến tiến độ của nhà thầu bị ảnh hưởng nặng nề. Có dự án nhà thầu nước ngoài lấy lý do là do nhà thầu phụ Việt Nam thi công chậm khiến tiến độ chung bị ảnh hưởng. Có những dự án có vấn đề phát sinh, chủ đầu tư phải tham khảo ý kiến tư vấn của các cơ quan quản lý nhà nước và điều này làm cho việc thực hiện hợp đồng bị gián đoạn. Nếu chủ đầu tư nhanh chóng, chủ động xử lý tình huống thì sẽ giảm bớt lỗi của chủ đầu tư trong việc thực hiện hợp đồng. Phạt hợp đồng, vì vậy, mất rất nhiều thời gian đàm phán để tách bạch đâu là lỗi của chủ đầu tư, đâu là lỗi do bất khả kháng và đâu là lỗi của nhà thầu. Hủy hợp đồng ư? Càng khó. Nhà thầu đang làm dở dang, biết có nhà thầu nào vào tiếp tục công việc dở dang đó? Chất lượng công trình ai chịu trách nhiệm? Khối lượng công việc hoàn thành là bao nhiêu để thanh toán? Chất lượng thiết bị kém, hay bị hỏng hóc phải xử lý ra sao… Chủ đầu tư phía Việt Nam nhiều trường hợp rơi vào thế bị động, lúng túng. Có trường hợp chủ đầu tư còn nghi ngờ tư vấn giám sát do chủ đầu tư thuê thông đồng với nhà thầu nước ngoài…
Trong công tác quản lý hợp đồng, có lẽ chủ đầu tư cần kiên quyết hơn, chủ động hơn trong việc xử lý sai phạm của nhà thầu. Phạt hợp đồng không dễ, tuy nhiên không phải là không thực hiện được, nếu cần thiết thì đưa ra trọng tài hoặc tòa án để xử lý. Hợp đồng xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Na Dương là một ví dụ. Tập đoàn này đã phạt nhà thầu Marubeni do chậm bàn giao công trình khoảng 13 triệu USD. Ngoài việc phạt hợp đồng, chủ đầu tư cũng cần xem xét kiến nghị lên cấp cao hơn để xử lý nhà thầu nước ngoài như cảnh cáo, đưa vào danh sách đen và đăng tải trên trang thông tin điện tử muasamcong.mpi.gov.vn. 
Từ những thông số kỹ thuật mà nhà thầu kê khai trong HSDT, các yếu tố xác định giá đánh giá, chủ đầu tư cần liên hệ mật thiết với việc thực hiện hợp đồng của nhà thầu nước ngoài để những “cân đong đo đếm” của tư vấn và chủ đầu tư trong quá trình đánh giá HSDT không vô ích. 1 MW thiếu hụt trong công suất thực tế so với đề xuất trong HSDT cũng cần được tính toán ra số tiền thiệt hại tương ứng. Một vấn đề cũng quan trọng không kém là mối liên hệ từ HSDT đến quản lý hợp đồng sẽ giúp chủ đầu tư xác định liệu có phải nhà thầu cố tình kê khai sai sự thật để giành hợp đồng hay không. Gian lận để trúng thầu sẽ bị trả giá rất đắt với việc bị cấm tham gia đấu thầu trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng 1 - 3 năm theo quy định tại Điều 75 Luật Đấu thầu. Chủ đầu tư là đơn vị hiểu nhà thầu nhất, do vậy cũng cần nhận thức được trách nhiệm lớn lao của mình trong việc giúp đất nước loại bỏ những nhà thầu nước ngoài gian lận và kém chất lượng. 
Xem tiếp kỳ 6... 

Bạn hãy đăng nhập vào Facebook để thực hiện bình luận

Chia sẻ bài viết facebook google twitter print email


Copyright 2013 © Viện đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Xây dựng - VDICT